A Chinese Odyssey - Một tuyệt tác của Châu Tinh Trì
Tôi sinh năm 1988. Nếu bạn cũng sàn sàn độ tuổi ấy, hoặc nằm trong cái dải gen Y giao thời vắt vẻo giữa hai thế kỷ, hẳn bạn sẽ lớn lên ở cái xứ sở mà những trưa hè vắng lặng như tờ. Cái sự tĩnh lặng đó thường chỉ bị phá vỡ bởi tiếng quạt máy tản gió chạy rè rè trên trần nhà, tiếng ve kêu râm ran ngoài rặng nhãn, và đặc biệt nhất là âm thanh phát ra từ cái tivi thùng của nhà hàng xóm, hay của chính nhà bạn. Nếu bạn hiểu những âm thanh ấy, bạn chắc chắn hiểu thứ "tôn giáo" giải trí mang tên phim bộ lồng tiếng.
Ngày đó, những cuốn băng VHS đen trùi trũi, nặng trịch, bám đầy bụi thời gian, rồi sau này là những chiếc đĩa VCD trầy xước từ mặt nhãn đến mặt đọc, mua vội ở tiệm thuê băng đĩa gần nhà, thực sự là cả một bầu trời viễn mộng của những đứa trẻ con. Thời ấy làm gì có internet, làm gì có smartphone vuốt trượt cả ngày, cũng chẳng có Netflix hay YouTube để băm nhỏ thời gian. Một thế giới giải trí muôn màu vạn trạng, có kiếm khách, có thần tiên, có giang hồ hiểm ác, tất cả bị nén lại, thu bé vừa vặn bằng cái màn hình mười bốn inch lồi lồi, rung rung.
Và trong cái bầu trời chật hẹp nhưng rực rỡ ấy, Châu Tinh Trì đối với lứa chúng tôi không đơn thuần là một diễn viên hài. Ông cứ như là một vị thánh.
Nhưng có một điều lạ lùng: vị thánh của tuổi thơ tôi không bao giờ nói tiếng Quảng mà nói tiếng Việt hẳn hoi. Chẳng những nói tiếng Việt, mà ông còn nói thông qua một chất giọng lồng tiếng nhừa nhựa, tưng tửng, lúc thì the thé cợt nhả kiểu phường chợ búa, lúc lại trầm xuống nghẹn ngào một cách sến súa của đội ngũ lồng tiếng Fafim Việt Nam (Công ty Xuất Nhập Khẩu và Phát Hành Phim Việt Nam). Phải khẳng định một điều rằng, một bộ phim Hồng Kông thời điểm cuối thập niên 90 - đầu 2000 sống hay chết ở dải đất hình chữ S này, một nửa là nhờ vào cái duyên kỳ lạ của những nghệ sĩ lồng tiếng giấu mặt.
Khán giả chúng tôi thuộc lòng nhịp điệu của họ đến mức có thể nhẩm theo trước khi nhân vật kịp mở miệng. Chúng tôi nhớ rõ cái cách họ kéo dài âm cuối để tạo độ ngân vang ngớ ngẩn, cách họ tài tình chuyển ngữ những miếng hài "ngôn từ" (wordplay) lắt léo của xứ Cảng Thơm thành những câu thoại tiếng Việt bình dân, suồng sã, mang đậm âm hưởng phương Nam nhưng lại duyên dáng đến lạ kỳ. Giọng nam chính bao giờ cũng thoăn thoắt, giảo hoạt, hơi chút lém lỉnh; giọng ông chú ồm ồm, khúm núm mang tính tấu hài của Ngô Mẫn Đạt; giọng nữ chính trong trẻo nhưng hay gắt gỏng chanh chua... tất cả trộn vào nhau, quyện lấy nhau tạo thành một thứ âm thanh nền của thanh xuân, một thứ phản xạ có điều kiện hễ nghe là tự động dọn miệng để cười.
Lần đầu tiên tôi xem Đại Thoại Tây Du (A Chinese Odyssey), tôi chắc cỡ chín, mười tuổi. Đó là một buổi chiều trốn ngủ trưa điển hình, tôi lén hì hục nhét cuộn băng mới mướn vào đầu máy, loay hoay với cái remote phím bấm lúc ăn lúc xịt. Hồi đó, chỉ nghe cái tên có chữ "Tây Du", đầu óc một đứa con nít cứ đinh ninh mình sắp được xem Tôn Ngộ Không mặc giáp vàng chóe, cưỡi Cân Đẩu Vân, cầm Thiết Bảng nện yêu tinh tơi bời khói lửa, giống hệt như bản truyền hình 1986 kinh điển chiếu hàng năm trên đài VTV. Cảm giác háo hức chờ đợi một màn diệt yêu trừ ma hoành tráng, đánh đấm chưởng lực bùm chéo căng tràn trong lồng ngực.
Nhưng không. Những gì hiện lên trên màn hình đã dội một gáo nước lạnh vào kỳ vọng ngây ngô ấy.
Đập vào mắt tôi là một gã tướng cướp râu ria xồm xoàm, luộm thuộm, mắt hay lác, tính tình hèn nhát, tên là Chí Tôn Bảo. Khung cảnh thì hoang tàn, bụi mù mịt, khô khốc. Hoàn toàn không có non xanh nước biếc, không có thiên đình rực rỡ khói sương mờ ảo. Thay vào đó là một cái bang hội rách nát, chắp vá nằm chỏng chơ giữa sa mạc đầy cát và gió. Tuy hụt hẫng một chút, nhưng bù lại, tôi đã cười lăn bò toài trước những miếng hài hình thể dơ dơ, những đoạn Nhị Đương Gia nhún nhảy điên khùng chẳng vì lý do gì, hay khúc Chí Tôn Bảo bị đồng bọn thi nhau dẫm đạp vào "chỗ hiểm" lặp đi lặp lại đến mức mặt mũi nhăn nhúm, tắt cả tiếng kêu than.
Sự thật là, một đứa trẻ mười tuổi không thể nào hiểu được nỗi đau giấu kín của Chí Tôn Bảo hay ba cái sâu xa trong phim đó. Trong mắt nó, đó chỉ là một bộ phim hài nhảm điển hình, xem để cười hố hố sảng khoái rồi đến chiều lại vác quả bóng nhựa ra hẻm đá tiếp, quên ngay tức lự. Nó hoàn toàn không biết rằng, cái cuộn băng ấy đang cất giấu một trong những bi kịch tình yêu day dứt nhất, tàn nhẫn nhất màn ảnh Hoa ngữ. Thứ bi kịch ngụy trang dưới lớp vỏ cợt nhả, mà phải tới hai mươi năm sau, khi đứa trẻ ấy đã trở thành một người đàn ông bầm dập với đời, khi mất mát, khi đã hiểu được thế nào là cái giá của sự trưởng thành và thế nào là "không thể quay lại", nó ngồi xem lại mới thấy khóe mắt sao cay cay.
Đứa con hoang dưới nắng gió Ninh Hạ và cú trượt dài phòng vé năm 1995
Ngày hôm nay, khi nhắc đến Đại Thoại Tây Du, người ta không ngần ngại gọi nó là một kiệt tác kinh điển, là tác phẩm vĩ đại nhất trong sự nghiệp của Châu Tinh Trì, là bệ phóng đưa ông thoát khỏi cái mác "diễn viên hài nhảm" để bước lên hàng triết gia của điện ảnh đại chúng. Nhưng, nếu cỗ máy thời gian đưa chúng ta lùi lại năm 1994, mọi thứ hoàn toàn mang một màu sắc khác. Khi ấy, dự án này là một canh bạc mạo hiểm ngông cuồng và từng là một "đứa con hoang" bị hắt hủi không thương tiếc ngay khi vừa chào đời.
Vào thời điểm đó, Châu Tinh Trì đã là ông vua không ngai của phòng vé Hồng Kông. Các bộ phim trước đó của anh như Đổ Thánh (All for the Winner), Đường Bá Hổ điểm Thu Hương (Flirting Scholar) đều đút túi nhẹ nhàng trên 40 triệu đô la Hồng Kông, một con số khổng lồ minh chứng cho sức hút khủng khiếp của cái tên Châu Tinh Trì. Với tham vọng lớn hơn, anh cùng một vài cộng sự, trong đó có Dương Quốc Huy, quyết định tự đứng ra làm chủ, lập ra hãng phim mới mang tên Tinh's Top (Chua Ban / 彩星電影公司). Và Đại Thoại Tây Du chính là dự án "khai sơn" đầy tham vọng mang tính định hình của hãng, với số vốn đầu tư được rót vào lên tới con số khủng khiếp: 60 triệu HKD.
Lưu Trấn Vĩ (Jeffrey Lau), người đạo diễn mát tay từng đưa Châu Tinh Trì lên đỉnh cao danh vọng với Đổ Thánh, tiếp tục là người cầm trịch dự án này, đồng thời bao thầu luôn phần kịch bản cốt lõi. Ban đầu, ý tưởng về một phiên bản Tây Du Ký "chẳng giống ai", lật ngược hoàn toàn nguyên tác là của chính Lưu Trấn Vĩ, và ông chưa bao giờ nghĩ đến ai khác ngoài Châu Tinh Trì cho vai diễn nặng ký Chí Tôn Bảo.
Đầu năm 1994, nhà sản xuất Trần Bội Hoa mang cái kịch bản điên rồ ấy gõ cửa Hãng phim Tây An (Tây An Điện ảnh Chế phiến xưởng) - một hãng phim quốc doanh có thế lực ở Trung Quốc đại lục, để ngỏ ý hợp tác sản xuất, chủ yếu nhắm đến bối cảnh quay và nhân lực. Phía Tây An đọc xong kịch bản thì chán ngán bỏ xó, chắc vì họ thấy nó quá sức bôi bác và phi logic, chả hiểu đạo diễn muốn làm gì với tác phẩm kinh điển của Ngô Thừa Ân. Nhưng, chỉ vì cái tên Châu Tinh Trì lúc bấy giờ là một tấm bùa hộ mệnh bảo chứng phòng vé quá lớn, nên cuối cùng họ mới miễn cưỡng gật đầu đồng ý. Thế là cả đoàn phim rồng rắn kéo nhau đến Trấn Bắc Bảo ở sa mạc Ninh Hạ (Trung Quốc). Nơi đây không phải xa lạ, nó chính là phim trường sa mạc nổi tiếng, nơi đạo diễn Trương Nghệ Mưu từng quay tác phẩm để đời Cao Lương Đỏ. Không khí ở Ninh Hạ vô cùng khắc nghiệt, gió cát quất rát mặt suốt ngày đêm, những bức tường thành bằng đất nện hoang phế, vàng vọt, nứt nẻ đã vô tình (hoặc hữu ý) tạo nên một thứ thẩm mỹ tiêu điều, bụi bặm, rạn vỡ cho bộ phim. Cái phông nền ấy khác hẳn với sự phồn hoa ngột ngạt của Hồng Kông, và cũng chẳng mảy may mang dáng dấp của tiên cảnh bồng lai. Nó chân thực, khô cằn và là bối cảnh hoàn hảo của một cõi trần gian mê lầm, nơi con người ta mắc kẹt trong ái ố hỉ nộ.

Và rồi, một chuyện dở khóc dở cười đã xảy ra. Đang quay thì kịch bản tự nhiên "nở" ra, các nhân vật phụ bỗng nhiên có những câu chuyện riêng cần giải quyết, uẩn khúc tiền kiếp hậu kiếp đan xen chằng chịt, khiến thời lượng một bộ phim là không thể nhét nổi. Đối mặt với tình thế đó, đoàn phim đưa ra một quyết định mạo hiểm tột bậc: bửa đôi tác phẩm thành hai phần riêng biệt. Đó là sự ra đời của Nguyệt Quang Bảo Hợp (Pandora's Box) - phần 1, và Tiên Lý Kỳ Duyên (Cinderella) - phần 2.
* Ngày xưa tôi quen gọi tên phim này là Nguyệt Quang Bảo Hợp nên tôi quyết định giữ nó trong xuyên suốt bài viết này, nhưng đúng hơn phải dùng tên là Nguyệt Quang Bảo Hạp hay là Bảo Hộp.
Nguyệt Quang Bảo Hợp hiên ngang ra rạp Hồng Kông đúng vào dịp phim Tết (khoảng cuối tháng 12/1994 – đầu tháng 1/1995), vác trên vai kỳ vọng gánh vác doanh thu của hãng phim mới. Trận chiến phòng vé vô cùng khốc liệt khi nó phải đối đầu trực tiếp với bom tấn hành động Rumble in the Bronx (Hồng Phiên Khu) của siêu sao Thành Long. Khởi đầu có vẻ êm xuôi khi hai ngày đầu ra mắt, phim thu về hơn 5 triệu HKD tại 60 rạp toàn Hồng Kông. Mọi người khấp khởi mừng thầm, có lẽ sẽ được khui champagne ăn mừng sớm. Nhưng hỡi ôi, sự khởi đầu thuận lợi đó chỉ là thứ ánh sáng giả tạo trước cơn bão. Sự tụt dốc sau đó là một cú trượt dài thảm khốc khiến những người làm phim không kịp trở tay.
Khán giả đại chúng, vốn đã quá quen mồm với một Châu Tinh Trì tấu hài chọc lét, cho họ cười hô hố từ đầu đến cuối một cách dễ dãi trong Trường Học Uy Long hay Lộc Đỉnh Ký, nay bỗng nhiên ngơ ngác, thậm chí phẫn nộ trước một cốt truyện phi tuyến tính quá rối rắm, cảnh vật u tối, mang đậm màu sắc bi thương rướm máu. Hơn nữa, hình tượng Tôn Ngộ Không uy dũng trong lòng họ lại bị "bôi bác" tàn tệ thành một kẻ lừa gạt tình cảm phụ nữ, yếu hèn và nhây nhớt. Kết quả là, tổng doanh thu của cả hai phần rớt thê thảm so với kỳ vọng ban đầu. Phần 1 chật vật thu về khoảng 25,09 triệu HKD (đứng vị trí thứ 6 phòng vé Hồng Kông năm 1995), phần 2 còn hẩm hiu hơn với khoảng 20,87 triệu HKD (đứng thứ 8). Con số này chưa bằng một nửa những bộ phim trước đó của Châu Tinh Trì. Tại thị trường Trung Quốc đại lục, tình hình còn bi đát và thảm họa hơn nhiều khi phim chỉ gom góp được vỏn vẹn vài trăm nghìn Nhân dân tệ. Các nhà phát hành ở Bắc Kinh thời đó lạnh nhạt, ghẻ lạnh hoàn toàn, chê bai bộ phim là "quá ồn ào, quá lộn xộn", và từ chối mọi nỗ lực quảng bá. Phim gần như chiếu trong rạp trống.
Nỗi ê chề chưa dừng lại ở phòng vé. Tại lễ trao giải Kim Tượng Hồng Kông (HKFA) năm 1995, mọi hào quang và vinh quang học thuật đều tụ hội về những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao như Đông Tà Tây Độc của Vương Gia Vệ, Nữ Nhân Tứ Thập của Hứa Ánh Hoa, hay Ẩm Thực Nam Nữ của Lý An. Đại Thoại Tây Du chìm nghỉm, hoàn toàn vô hình trong mắt giới phê bình, thậm chí còn bị lôi ra dè bỉu là "rác rưởi văn hóa", "kẻ phá hoại nguyên tác kinh điển" không thương tiếc. Nhưng bẽ bàng nhất có lẽ là câu chuyện của nhạc sĩ Triệu Quý Bình, một người từng vươn ra thế giới, vang danh với phần âm nhạc đỉnh cao cho Bá Vương Biệt Cơ hay Cao Lương Đỏ. Sau khi được mời đến trường quay để cảm nhận không khí để làm nhạc, chứng kiến bối cảnh lộn xộn và lối diễn xuất mà ông cho là quá đỗi "nhảm nhí", ông đã uất ức rời đi. Đỉnh điểm là, khi phim ra mắt, ông yêu cầu nhà sản xuất tuyệt đối không được ghi tên mình trong phần credit cuối phim, chỉ vì nỗi sợ hãi tột cùng bị mang tiếng xấu, sợ cái danh "nhạc sĩ của rác văn hóa" sẽ bôi nhọ thanh danh cả đời của mình.
Cái giá phải trả cho sự thất bại là rất đắt, nó vô cùng đắt ở thời điểm đó. Hãng phim Tinh's Top non trẻ của Châu Tinh Trì lâm vào khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, gánh khoản lỗ lớn. Đạo diễn Lưu Trấn Vĩ, người kiến tạo nên thế giới đó, buồn bã, thất vọng và tổn thương đến mức phải cuốn gói rời Hồng Kông sang Canada tĩnh dưỡng một thời gian. Một dự án mang kỳ vọng mở ra kỷ nguyên mới, cuối cùng lại mang đầy dáng dấp của một sự kết thúc thất bại ê chề.
Nguyệt Quang Bảo Hợp và vòng lặp định mệnh
Khoan hãy phán xét lớp vỏ "hài bất chấp" nhố nhăng, cợt nhả. Nếu chịu khó tĩnh tâm nghiễn ngẫm lại bộ phim, bạn sẽ nhận ra Đại Thoại Tây Du đang ẩn giấu một cấu trúc kể chuyện phi tuyến tính vô cùng xuất sắc, một mê cung của định mệnh được thiết kế tinh vi và một bi kịch hiện sinh sắc lẹm cứa vào lòng người, chỉ tiếc là ở thời điểm đó chưa phù hợp với thị hiếu của khán giả Châu Á.
Cái tài tình, và cũng là cái điên rồ của Lưu Trấn Vĩ, là ông mượn khung nhân vật quen thuộc của Tây Du Ký, mượn cái bình cũ rích ấy, nhưng lại đổ vào đó một thứ rượu vang hoàn toàn khác, lật ngược toàn bộ mô-tuýp đã ăn sâu vào tiềm thức. Tôn Ngộ Không ở đây không mở đầu bằng hình ảnh một thạch hầu sinh ra từ một cục đá, uy dũng mang thiên mệnh trừ yêu diệt ma như bao bản phim khác. Không. Ở đây, con khỉ ấy bắt đầu dưới thân phận của một gã phàm nhân tên Chí Tôn Bảo - một kẻ cướp xuất thân từ tầng lớp hạ lưu, tục tĩu, tham sống sợ chết, hèn mạt nhưng lại luôn khao khát được yêu đương. Hắn hoàn toàn mù tịt về quá khứ, không hề biết mình chính là hậu kiếp của Tôn Ngộ Không, kẻ từng kiêu ngạo đến mức phản thầy, bội nghĩa với sư phụ Đường Tăng 500 năm trước và bị Quan Âm Bồ Tát trừng phạt bóc lột sức mạnh, đày xuống trần gian.
Sự xuất hiện của vật phẩm mang tên "Nguyệt Quang Bảo Hợp" (Hộp bảo bối ánh trăng) ban đầu cứ tưởng là một ân huệ của trời cao. Đây không phải là một công cụ giải quyết vấn đề rẻ tiền kiểu phim Hollywood (deus ex machina). Chí Tôn Bảo, vì muốn cứu lấy người tình Bạch Tinh Tinh (Bạch Cốt Tinh) khỏi cái chết, đã liên tục sử dụng bảo hợp, hô to thần chú "Bát Nhã Ba La Mật" để quay ngược thời gian. Nhưng cái vòng lặp thời gian ấy càng chạy, người xem càng thấy rõ sự bất lực. Hắn lặp đi lặp lại cú nhảy thời gian đó bao nhiêu lần, từ cứu được muộn vài giây, cho đến cứu sớm quá... mọi nỗ lực can thiệp đều vô nghĩa, mọi thứ dường như càng tuột khỏi tầm tay bấy nhiêu một cách đầy chua chát.
Và rồi, sự nghiệt ngã thực sự bắt đầu trong một lần nhảy lố thời gian do bảo hợp bị lỗi, hắn không quay về thời điểm cứu Bạch Tinh Tinh, mà bị văng thẳng về quá khứ 500 năm trước. Tại thời điểm tiền kiếp này, hắn tình cờ gặp gỡ Tử Hà Tiên Tử trước cửa Thủy Liêm Động.

Đây là một cấu trúc kịch bản lồng ghép nhân quả đan xen hoàn hảo đẳng cấp như bất kỳ bộ phim khoa học nào. Khán giả ở nửa đầu phim có thể vỗ đùi cười sảng khoái vì thấy gã tướng cướp lôm côm cứ chạy lăng xăng xuyên không một cách lố bịch. Nhưng càng về cuối, khi lớp sương mù tan đi, sự bất lực tột cùng của con người nhỏ bé trước bàn tay nhào nặn vô hình của định mệnh càng trở nên rõ nét, ngột ngạt và nghẹt thở. Con người, rốt cuộc chỉ là những quân cờ với ảo tưởng mình có tự do ý chí.
Giọt nước mắt giấu sau nụ cười
Tôi từng không ít lần tự chất vấn bản thân mình, vì sao xem cảnh Chí Tôn Bảo đeo vòng Kim Cô, lại cảm thấy nhói và xót xa đến thế? Tại sao một bộ phim mang đầy chất mo lei tau (hài vô lý/hài nhảm/hài bất chấp) từ đầu chí cuối lại có thể thai nghén ra một nỗi day dứt tột cùng, ám ảnh người ta đến hàng chục năm?
Câu trả lời nằm ở chỗ: câu chuyện của Chí Tôn Bảo, dưới bàn tay nhào nặn của Lưu Trấn Vĩ và diễn xuất của Châu Tinh Trì, chính là phép ẩn dụ chân thật nhất, tàn nhẫn nhất cho sự trưởng thành của một người đàn ông trong thế giới thực. Hãy cứ nhìn Chí Tôn Bảo xem. Hắn chính là hình ảnh phản chiếu hoàn hảo của tuổi trẻ thanh xuân: ưa tự do, chối bỏ trách nhiệm, bốc đồng, luôn ảo tưởng rằng bản thân có thể thao túng và kiểm soát mọi thứ trong lòng bàn tay. Hắn mải mê chạy theo những hình bóng phù phiếm, cố chấp đuổi theo Bạch Tinh Tinh mà phớt lờ tình yêu đích thực, thuần khiết của Tử Hà Tiên Tử đang chực chờ, cung phụng ngay trước mắt. Hắn dối trá với Tử Hà không chớp mắt, hắn lợi dụng tấm chân tình của nàng chỉ để lừa lấy lại chiếc Nguyệt Quang Bảo Hợp. Hắn đinh ninh một cách mù quáng rằng người hắn yêu là Bạch Tinh Tinh. Phải đợi đến lúc Bạch Tinh Tinh bước vào trái tim hắn, nhìn thấy giọt nước mắt mà Tử Hà đã để lại trong đó, rồi âm thầm bỏ đi; phải đợi đến lúc trái tim hắn (theo nghĩa đen) bị mổ phanh ra, hắn mới chịu đối diện với sự thật phũ phàng: hắn đã yêu Tử Hà từ lúc nào không hay không biết.
Nhưng bi kịch lớn nhất của một kiếp người thường nằm ở sự lệch pha về thời điểm. Lúc Chí Tôn Bảo nhận ra mình yêu ai thiết tha, cũng là lúc hắn không còn quyền được làm một người đàn ông phàm trần bình thường để yêu nàng nữa. Tử Hà đang bị Ngưu Ma Vương ép uổng, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Để cứu người con gái mình yêu khỏi tay ác quỷ, Chí Tôn Bảo buộc phải có sức mạnh vô địch. Nhưng luật chơi của số phận rất sòng phẳng: không có sức mạnh nào là miễn phí. Để có được sức mạnh vô song của Tề Thiên Đại Thánh, hắn phải đánh đổi. Hắn phải tự nguyện đội lên đầu chiếc vòng Kim Cô lạnh lẽo, chấp nhận vĩnh viễn từ bỏ thân phận Chí Tôn Bảo tự do tự tại, quay về làm Tôn Ngộ Không vô cảm, cắt đứt vạn duyên trần tục, quy y cửa Phật, ngoan ngoãn phò tá Đường Tăng đi thỉnh kinh độ thế.
Chiếc vòng Kim Cô ấy, trong lăng kính của Đại Thoại Tây Du, không còn đơn thuần là công cụ để Đường Tăng trừng phạt tính khí bốc đồng của Tôn Ngộ Không nữa. Chiếc vòng ấy chính là gánh nặng trách nhiệm, là ranh giới nghiệt ngã đánh dấu sự chấm dứt của tuổi trẻ và bắt đầu của sự trưởng thành. Có một câu bình luận trứ danh trên các diễn đàn mạng Trung Quốc về bộ phim này, một câu nói mà tôi vô cùng tâm đắc vì nó lột tả trọn vẹn sự bế tắc của cái bi kịch hiện sinh đó: "Không đeo vòng kim cô, ta không thể cứu nàng. Đeo vòng kim cô vào, ta lại không thể yêu nàng nữa." Lựa chọn nào cũng dẫn đến nỗi đau. Cứu được mạng sống thì mất đi tình yêu. Ôm giữ tình yêu thì phải chấp nhận bất lực nhìn người mình yêu chết.

Bộ phim hài nhảm đến mức nào đi nữa, thì cái khoảnh khắc Tôn Ngộ Không cắn răng chịu đau rách da rách thịt, bất lực nhìn người yêu tan biến vào mặt trời sa mạc chói lòa rực lửa, vẫn mãi là một vết dao chí mạng, từ từ cứa vào lòng những kẻ đã bước qua tuổi thanh xuân mộng mơ. Trưởng thành, đôi khi không phải là gặt hái được thành tựu vĩ đại, mà chính là việc phải tàn nhẫn tự tay chôn vùi một phần linh hồn, một phần tình yêu của mình để gánh vác cuộc đời đầy rẫy trách nhiệm.
Những bóng hình mắc kẹt dưới chân thành cổ và câu nói "mười ngàn năm" kinh điển
Làm nên linh hồn bất tử của Đại Thoại Tây Du tuyệt đối không chỉ có một mình Châu Tinh Trì. Dàn diễn viên tham gia năm đó dường như đã mang hết bầu máu nóng, vắt kiệt thanh xuân, vắt kiệt hỉ nộ ái ố của chính bản thân mình trên trường quay nắng gió để để lại trên màn ảnh những hình tượng kinh điển, độc nhất vô nhị, không bao giờ có thể thay thế.
Chu Ân với vai Tử Hà Tiên Tử (đồng thời cũng là Bàn Tơ Đại Tiên) là một tượng đài nhan sắc và diễn xuất không thể xô đổ. Nàng hiện lên là một tiên nữ kiều diễm nhưng mang trong mình một trái tim bướng bỉnh bị đày xuống trần gian. Nàng tin vào một lời thề ngốc nghếch, lãng mạn đến mức mù quáng: ai rút được thanh Tử Thanh bảo kiếm của nàng sẽ là ý trung nhân do trời định. Cái nháy mắt tinh nghịch, trong trẻo nhưng đầy mị lực của nàng với Chí Tôn Bảo dưới ánh đèn leo lét của Thủy Liêm Động đã ngay lập tức bị đóng băng thời gian, trở thành một trong những khoảnh khắc điện ảnh đẹp nhất, ám ảnh nhất lịch sử phim Hoa ngữ.
Tử Hà là đại diện cho một người phụ nữ si tình, bướng bỉnh không vụ lợi. Dù biết ý trung nhân của cô là một kẻ lừa gạt, nàng vẫn như con thiêu thân lao vào lửa. Trước lúc tan biến, nàng thốt lên câu nói làm day dứt cả một thế hệ: "Ý trung nhân của ta là một vị anh hùng cái thế. Có một ngày, chàng sẽ cưỡi mây ngũ sắc đến rước ta. Ta đoán trúng được phần đầu, nhưng không đoán trúng được kết cục."
Điều khiến khán giả càng xót xa hơn, là sự phản chiếu giữa phim và ngoài đời. Ngoài đời thật, mối tình đình đám giữa Chu Ân và Châu Tinh Trì cũng chính thức tan vỡ không lâu sau khi bộ phim này đóng máy. Người ta đồn đoán nhiều lý do về sự rạn nứt, nhưng chính sự đổ vỡ ngoài đời thực ấy đã tạo nên một tấm màng lọc cảm xúc u uất. Để rồi mỗi lần khán giả xem lại ánh mắt nức nở, thất vọng của Tử Hà nhìn Chí Tôn Bảo, họ lại thấy một sự giao thoa cay đắng giữa phim và đời, không thể nào rạch ròi phân định đâu là diễn xuất, đâu là nỗi đau thật sự.
Chúng ta cũng không thể không nhắc đến người bạn diễn vĩ đại Ngô Mẫn Đạt, "ông chú" được lồng tiếng bởi Fafim quen thuộc của mọi nhà. Vào vai Nhị Đương Gia, và sau này là hậu kiếp của Trư Bát Giới, Ngô Mẫn Đạt mang đến một vẻ ngoài hèn mạt, cục súc, chuyên gia đâm sau lưng đồng đội, tham ăn tục uống nhưng lại duyên dáng và đáng yêu đến kỳ lạ. Sự tung hứng giữa ông và Châu Tinh Trì là chuẩn mực của hài kịch Hồng Kông.

Rồi còn đó sự góp mặt của Mạc Văn Úy (Bạch Tinh Tinh / Bạch Cốt Tinh), Lam Khiết Anh (Xuân Tam Thập Nương / Nhện Tinh) - những mỹ nhân sắc sảo, kiêu ngạo. Số phận ngoài đời sau này của họ, đặc biệt là cuộc đời trôi nổi, nghèo khổ, đầy uẩn khúc của ngọc nữ Lam Khiết Anh nhiều năm về sau, càng làm lớp bụi thời gian phủ lên bộ phim thêm phần trầm mặc, buốt giá, như một lời nguyền về cái đẹp hồng nhan bạc mệnh.
Và dĩ nhiên, đã nói đến Đại Thoại Tây Du, chúng ta buộc phải nói đến câu thoại định mệnh. Lời nói dối kinh điển của một gã đàn ông tồi tệ nhằm lừa gạt lòng tin của một cô gái si tình, phút cuối, trải qua bao bể dâu, lại hóa thành lời tự tình chân thật nhất, đau đớn nhất của một kẻ biết mình sắp mất tất cả ánh sáng của cuộc đời. Khán giả đại lục thập niên 90 truyền tai nhau, chép tay nhau câu thoại ấy. Nó đã in hằn vào não trạng bao người, trở thành mẫu câu tỏ tình huyền thoại:
"Từng có một tình yêu chân thành đặt trước mặt tôi nhưng tôi không biết trân trọng. Đến khi mất đi rồi mới hối hận thì đã muộn. Nỗi đau khổ nhất trên đời này cũng chỉ đến thế mà thôi. Nếu ông trời cho tôi thêm một cơ hội nữa, tôi sẽ nói ba chữ với cô gái đó: Tôi yêu em. Nếu nhất định phải thêm một kỳ hạn cho mối tình này, ta hy vọng là... mười ngàn năm."
Mười ngàn năm! Con số của sự vĩnh cửu. Nhưng có một bí mật đằng sau câu thoại lấy đi hàng triệu lít nước mắt này mà ít ai ngờ tới: thực chất nó bắt nguồn từ một trò giễu nhại không hơn không kém. Đạo diễn Lưu Trấn Vĩ từng tiết lộ một sự thật dở khóc dở cười: ông cố tình chắp bút viết câu thoại có phần sến súa, lê thê đó là để mỉa mai, châm biếm phong cách làm phim nghệ thuật của Vương Gia Vệ. Lưu Trấn Vĩ rất ngứa mắt với việc các nhân vật trong phim Vương (kiểu như Trùng Khánh Sâm Lâm) cứ phải tỏ ra lầm lì, đau khổ đằng đẵng, yêu muốn chết nhưng không bao giờ chịu mở miệng nói thẳng hai chữ "yêu em" cho người ta nhờ.
Ngay cả cảnh kết phim, khi Tử Hà và Chí Tôn Bảo (ở một kiếp khác, nay đã là một kiếm khách thành thân cùng giai nhân) đứng trên tường thành nhìn theo bóng Tôn Ngộ Không cô độc xa dần, buông một câu chế giễu: "Người đó trông giống một con chó", cũng chính là sự nhại lại có chủ đích câu thoại nổi tiếng của tài tử Lương Triều Vỹ trong siêu phẩm Đông Tà Tây Độc của chính Vương Gia Vệ.
Và đừng quên thủ pháp "giải thiêng" (deflating the sacred) bậc thầy của Lưu Trấn Vĩ rải rác khắp cả hai tập phim. Tiêu biểu nhất là lúc ở giữa cảnh cao trào sinh tử, khi mây đen vần vũ, sấm chớp long trời lở đất báo hiệu một trận huyết chiến bi tráng, Đường Tăng bỗng từ đâu buột miệng hét lên: "Cẩn thận! Sắp có sấm rồi đấy! Trời sắp mưa, đi thu quần áo vào thôi!". Một câu thoại vô duyên đến cùng cực, phá game đến đỉnh điểm, lập tức đánh sập toàn bộ không khí bi tráng vừa được cất công dựng lên. Nhưng chính sự giễu nhại thần thánh, bỡn cợt sự nghiêm túc đó lại là chất xúc tác đưa bộ phim vượt ra khỏi khuôn khổ hài thông thường để lên tầm kinh điển.
Hơn ba mươi năm bụi cát: Hành trình lội ngược dòng từ rác văn hóa đến giấc mộng không bao giờ tắt
Quá trình "phục sinh" của Đại Thoại Tây Du có lẽ là một trong những hiện tượng văn hóa kỳ lạ, ngoạn mục và vô tiền khoáng hậu nhất trong lịch sử điện ảnh Á Châu cuối thập niên 1990. Từ một kẻ thất bại ê chề ở phòng vé, nó đã tự tìm được con đường sống nhờ vào một ngã rẽ không ai lường trước. Chuyện kể rằng, vào cuối năm 1996, một bản phim copy được gửi đến Học viện Điện ảnh Bắc Kinh lừng danh. Đáng nói, nó không được gửi đến để tôn vinh, mà như một dạng "giáo cụ phản diện" - các giáo sư lấy nó ra chiếu cho sinh viên xem để làm ví dụ điển hình phân tích về việc phá hoại kinh điển bừa bãi và làm phim dở tệ là như thế nào. Nhưng trớ trêu thay, các vị giáo sư đáng kính đã đánh giá sai lầm về sức mạnh của tuổi trẻ. Những bộ óc trẻ tuổi, nổi loạn của giới sinh viên đại lục lúc bấy giờ, qua lăng kính của những diễn đàn BBS sơ khai mới manh nha xuất hiện như mạng "Thủy Mộc Thanh Hoa" (của Đại học Thanh Hoa) hay "Vị Danh" (của Đại học Bắc Kinh), đã nhìn thấy ở "đống rác" ấy những viên kim cương lấp lánh triết lý.
Giới trẻ trí thức bắt đầu thi nhau mổ xẻ, phân tích bộ phim bằng các lý thuyết hàn lâm phức tạp về "chủ nghĩa hậu hiện đại" (postmodernism) và "giải cấu trúc" (deconstructionism). Thế hệ sinh viên cuối 90s đó không hề mang vác gánh nặng của lòng tôn kính tuyệt đối, cứng nhắc với hình tượng Tôn Ngộ Không chuẩn mực đạo đức của bản 1986. Họ đang ở độ tuổi khao khát sự phá vỡ, sự nổi loạn, nên họ dễ dàng đồng cảm sâu sắc với một Chí Tôn Bảo tầm thường, tham sống sợ chết, trốn tránh trách nhiệm và bị giằng xé dữ dội vì tình yêu.
Cùng lúc đó, làn sóng đĩa VCD lậu (phim ảnh thời này luôn bị sao chép lậu tràn lan vô tội vạ) đã vô tình giúp bộ phim truyền tay nhau đi khắp các ngõ ngách, các ký túc xá đại học. Câu tỏ tình "mười ngàn năm" lan truyền với tốc độ chóng mặt, trở thành câu cửa miệng, thành mật ngữ tỏ tình của thanh niên thời bấy giờ.
Đến giai đoạn sau năm 2000, kênh truyền hình CCTV Điện ảnh (Trung Quốc) bắt đầu liên tục phát lại bộ phim, chính thức đưa tác phẩm tiếp cận đến đại chúng toàn quốc. Sự bùng nổ của internet sau đó với các phòng chat, Yahoo, diễn đàn đã hoàn tất cú "lội ngược dòng" ngoạn mục. Đỉnh điểm là năm 2000, cuốn sách Đại Thoại Tây Du bảo điển (một dạng cẩm nang/từ điển giải mã mọi chi tiết trong phim) ra đời, chính thức xác nhận bộ phim đã vượt ngưỡng điện ảnh để trở thành một hiện tượng văn hóa độc lập. Người ta chỉ cần trích một câu thoại bâng quơ là cả hai đủ hiểu nhau đang nói gì.
Có một chi tiết rất "đời" và mang tính mỉa mai thú vị: đạo diễn Lưu Trấn Vĩ về sau đã lên báo chí thẳng thắn thừa nhận rằng lúc thai nghén và làm phim, ông chỉ có mục đích duy nhất là làm một phim hài thương mại để kiếm tiền gỡ gạc, hoàn toàn không hề có chủ đích cài cắm bất kỳ triết lý hậu hiện đại sâu xa hay giải cấu trúc mẹ gì cả. Mọi tầng nghĩa cao siêu ấy đều là do khán giả (chủ yếu là giới sinh viên trí thức) tự tưởng tượng ra và gán ghép vào. Ông thậm chí công khai gọi những bài phân tích, diễn giải "cao siêu" đó là "sự diễn giải quá đà". Năm 2001, khi đích thân Châu Tinh Trì được mời đến diễn thuyết tại giảng đường Bách Niên của Đại học Bắc Kinh danh giá, trước hàng loạt câu hỏi vĩ mô, hàn lâm của sinh viên về triết lý chủ nghĩa hậu hiện đại ẩn giấu trong bộ phim, vị Tinh Gia lừng lẫy cũng chỉ biết... ngơ ngác, gãi đầu cười trừ vì không hiểu họ đang nói tới cái gì.
Nhưng, nghệ thuật là thế. Khi một tác phẩm đã hoàn tất và rời khỏi tay người sáng tạo, nó đã thuộc về người xem. Nó sống cuộc đời của riêng nó qua lăng kính của công chúng. Đôi khi, tác phẩm vĩ đại hơn chính người tạo ra nó, và chính sự tiếp nhận của thế hệ trẻ đã "thánh hóa" một bộ phim hài nhảm thành một tuyệt tác.
Sự công nhận hàn lâm cuối cùng cũng đến muộn màng nhưng xứng đáng. Năm 2005, Hiệp hội Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông (HKFA) đã bình chọn Đại Thoại Tây Du: Nguyệt Quang Bảo Hợp đứng thứ 19 trong danh sách danh giá "100 phim Hoa ngữ xuất sắc nhất" mọi thời đại.
Sau này mỗi khi xem lại, tôi vẫn nhận ra sức hút của bộ phim này vẫn như ngày nào, chỉ khác một điều duy nhất: cậu bé mười tuổi ngày xưa ngồi cười hố hố vô tư lự trước màn hình tivi, nay đã là một người đàn ông trung niên mang nhiều hối tiếc của những sự lựa chọn sai lầm trong cuộc đời. Phân cảnh cuối cùng hiện lên, nhìn bóng lưng Tôn Ngộ Không vác gậy Thiết Bảng lặng lẽ bước đi trong cuồng phong bão cát, bỏ lại sau lưng phồn hoa và tình yêu, mang theo câu phán xét nhói lòng "Hắn trông như một con chó", tôi bỗng thấy mắt mình nhòe đi.
Phải, hắn trông như một con chó hoang. Một con chó hoang ngạo nghễ từng muốn xé rách trời xanh, nay đã bị thuần hóa bởi cái vòng kim cô của số phận. Hắn buộc lòng phải từ bỏ tình yêu duy nhất, khoác lên mình lớp da của một anh hùng vô cảm, để cắn răng đi trọn con đường mà người đời và định mệnh ép hắn phải đi.
Đại Thoại Tây Du vĩ đại, vì nó chưa bao giờ cố tỏ ra cao ngạo để rao giảng đạo lý. Nó bỡn cợt thần linh, lật đổ những tượng đài thần tượng nghiêm cẩn, chửi thề thẳng thừng vào mặt số phận trớ trêu. Nó khéo léo bọc một nỗi đau tột cùng, một bi kịch hiếm có trong những tràng tiếng cười hô hố bỉ ổi nhất. Để rồi khi tràng cười dần tắt đi cùng dòng credit, thứ đọng lại trong tâm can người xem chỉ còn là tiếng gió rít não nề qua bức tường thành đất nện, và một mối tình vĩnh viễn nằm lại trong lớp cát bụi thời gian, không cách nào cứu vãn.
Đời người, suy cho cùng, dẫu mạnh mẽ đến đâu, ai mà chẳng có một "Nguyệt Quang Bảo Hợp" sâu thẳm trong tim muốn được dùng lại một lần để sửa chữa lỗi lầm, và ai mà chẳng từng là một Chí Tôn Bảo trẻ dại, ngông cuồng, kiêu ngạo, để rồi vĩnh viễn vuột mất đi Tử Hà của thời thanh xuân.
